Thế giới đang rất
“mở”, sự toàn cầu hóa đang diễn ra cho thấy cơ hội cũng như thách thức rất lớn
đến mọi quốc gia trên thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam của chúng ta!
Toàn cầu hóa hiểu một
cách đơn giản là những gì vừa xảy ra tại Mỹ thì ở Việt Nam sẽ biết
ngay. Nhưng những thứ chúng ta biết đã được biên, thông dịch lại. Điều đó
đồng nghĩa chúng ta có thể không hiểu thấu hoàn toàn nội dung của vấn đề.
Đối với những sinh
viên như tôi, các nguồn tài liệu nghiên cứu trong nước không đủ để thỏa mãn
mong muốn của bản thân, vì thế chúng tôi buộc phải tìm đến các nguồn tài liệu
nước ngoài. Và chỉ có một cách để hiểu tất cả nội dung của vấn đề hoặc thông
suốt các nguồn tài liệu nước ngoài: Chúng ta phải giỏi tiếng anh.
Không nói đi đâu xa,
các bạn có thể thấy rõ tình trạng hiện nay trong khu vực Đông Nam Á. Đầu năm
2016, AEC – cộng đồng kinh tế Đông Nam Á (Asean Economic Community) đã chính
thức mở cửa nên chỉ một thời gian ngắn nữa thôi chuyển dịch lao động giữa các
quốc gia sẽ sớm “khởi tranh”. Thực trạng mức sống ở Việt Nam thấp hơn các nước
phát triển trong khu vực như Singapore, Thailand, Indonesia,… nhưng nếu người
lao động được trả lương như nhau với công việc của họ thì nơi nào sẽ thu hút họ
hơn? Nếu là tôi, tôi sẽ chọn Việt Nam.
Theo thống kê của Viện
Khoa học và Lao động Quý I năm 2015, nước ta có hơn 178.000 cử nhân, thạc sĩ
thất nghiệp. Lý do những cử nhân, thạc sĩ đó không có việc làm một phần vì thiếu
kĩ năng làm việc cơ bản và trình độ chuyên môn không đạt yêu cầu.
Như vậy thử hỏi nếu
các nguồn lao động của các nước thành viên Đông Nam Á bắt đầu sang Việt Nam tìm
việc thì con số thất nghiệp đó sẽ tăng lên bao nhiêu nếu chúng ta không có
tiếng Anh để cạnh tranh với họ?
Không chỉ có AEC, bên
cạnh còn TPP – Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement ) sẽ “tạo” ra nhiều thách thức hơn nữa
cho sinh viên Việt Nam.
Tôi chỉ nói đến thách
thức vì tôi chưa thấy cơ hội “thật sự” nào đằng sau nó. Những cơ hội đó theo
tôi là do chúng ta tự tạo ra vì thấy được thách thức.
Như đã nói, chúng ta
cần phải “giỏi tiếng Anh” chứ không phải chỉ “học tiếng Anh”. Thế nào là giỏi tiếng
Anh? Là có được các tấm bằng TOEIC, TOEFL mà không thể nói được? Cũng có thể
nói như vậy tùy theo mục đích học tiếng Anh của bạn là gì. Nhưng với tôi, giỏi
một ngoại ngữ đồng nghĩa chúng ta phải nói được ngoại ngữ đó.
Nếu nói chỉ học tiếng
Anh thì sinh viên như tôi đã có ít nhất bảy năm học (bốn năm cấp hai và ba năm
cấp ba). Sau bảy năm học đó, tôi khẳng định mình không thể nói được một câu
trọn vẹn. Lý do tôi không thể nói được vì nhận thức về mục đích học tiếng Anh
hoàn toàn sai. Tôi không nhận ra tiếng Anh là ngôn ngữ quan trọng cho tương
lai. Tôi xem tiếng Anh như bao môn học khác, học để đối phó giáo viên lúc trên
lớp và kiểm tra, thời gian khác thì không bao giờ đụng đến.
Có nhiều bạn nói vì
không có điều kiện học tiếng Anh, tôi cũng đồng ý.
Quê tôi gần mũi đất
Việt Nam, tại đó cả thời học sinh của tôi chẳng thấy bóng dáng người nước ngoài
nào. Các trung tâm chẳng buồn có dù chỉ một. Trên lớp học thì toàn ngữ pháp với
ngữ pháp. Trong gia đình chẳng ai nhắc nhở học tập thế này thế kia.
Chẳng bù với các bạn ở
TP. HCM cứ vài trăm mét có một trung tâm ngoại ngữ, đi vài mét ở trung tâm
Thành Phố thì gặp người nước ngoài. Ở Nha Trang thì cứ đi vài ba bước ngoài
biển là thấy được “ông tây, bà ta”. Tại Hà Nội, Đà Nẵng cũng thôi ôi… Bởi thế
sinh viên đến từ các vùng quê không có điều kiện thua thiệt là đúng.
Nhưng không ít người
trong chúng ta đã có cơ hội học tập tại Hà Nội, TP. HCM mà vẫn đưa những lý do đó
để biện hộ thì thật không đúng, lỗi bây giờ hoàn toàn do chúng ta. Đã đến lúc
chúng ta cần thay đổi suy nghĩ về giá trị của tiếng Anh, thay vì tiếp tục đổ
lỗi do không có điều kiện.
Bạn sẽ dễ dàng nhận ra
sự quan trọng của tiếng Anh như thế nào trong cuộc sống hiện nay khi bạn có đủ
trải nghiệm bên ngoài. Tôi nhận ra chính hai yếu tố quan trọng sau giúp sử dụng
tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ.
1. Không bỏ cuộc.
Tôi không nhớ rõ bao
nhiều lần tôi lên kế hoạch học tiếng Anh, có thể là 10 hay thậm chí 20. Tôi lập
kế hoạch ngắn hạn lẫn dài hạn, học được dăm ba bữa thì cảm thấy quá chán nản,
thế là tôi dừng. Khoảng ba, bốn tuần sau tôi bắt đầu học lại và tôi lại dừng.
Có một việc mà tôi
chưa bao giờ dừng, đó là suy nghĩ về ước mơ sau này – nó cần tiếng Anh. Đó là
lý do thúc đẩy tôi không bao giờ bỏ cuộc.
2. Giết chết sự xấu hổ.
Đây là yếu tố cốt lõi
ngăn cản ta mở miệng nói chuyện với người nước ngoài. Ta sợ sai ngữ pháp, sợ
nói họ không hiểu. Thật sự thì bạn đang sợ thứ mà người bản xứ vẫn thường xuyên phạm lỗi. Nếu bạn cảm thấy khó khăn quá hãy nhờ sự giúp đỡ của những
người bạn. Tôi nghĩ họ sẽ góp phần lớn trong sự cải thiện tiếng Anh của bạn.
Tính đến thời điểm
này, tôi chỉ thật sự dành thời gian học tiếng Anh chưa đến một năm! Bây giờ tôi
tự tin có thể huyên thuyên với người nước ngoài. Tiếng Anh của tôi chưa đủ để
nói giỏi vì thế tôi phải luôn cố gắng để không thua bạn bè. Tôi sử dụng tiếng
Anh kha khá như bây giờ cũng vì sự giúp đỡ của bạn tôi. Cô ấy là người truyền
động lực cho tôi tự học và xóa bỏ rào cản về sự xấu hổ.
Khi tiếng Anh được kha
khá, tôi tham gia các câu lạc bộ trong và ngoài trường. Khi đó tôi thấy quá
nhiều cơ hội mở ra cho bản thân, trong đó có những chuyến đi nước ngoài mà tôi
ao ước được đi một lần từ nhỏ.
Tôi tin rằng, nếu tôi
không có tấm bằng đại học nhưng tôi có tiếng Anh giỏi, tôi có kĩ năng tốt thì
không lo không có việc làm. Còn vị trí 5 hay 10 năm sau tùy thuộc vào thái độ
và cách ta làm việc.
Hy vọng các bạn tìm được mục đích cho việc học tiếng Anh!
Khi bạn giỏi hơn, bạn sẽ tham gia cuộc chơi lớn hơn. – Nguyễn Hữu Trí






